bảo tàng online
Và rốt cục, công tác GD của bảo tồn có đạt được ý nghĩa hay không, chẳng thể không nói đến vai trò của các cán bộ giáo dục, để thực thụ là cầu nối giữa bảo tàng và công chúng, các cán bộ giáo dục cần tự trau dồi và nâng cao năng lực. Họ cần được huấn luyện để trở thành nhiều năm kinh nghiệm hơn, làm việc có tính sư phạm hơn để có thể tổ chức được những chương trình GD phù hợp với từng đối tượng công chúng khác nhau, bởi GD của bảo tồn không hề chỉ là GD con nít Mặc dù trẻ mỏ có thể là lượng khách tham quan chính của bảo tồn.
Đây là không gian giúp học trò trải nghiệm, ảnh hưởng, thảo luận, bàn luận, học tập, đoàn luyện các kỹ năng và mô tả sự sáng tạo của mình qua các hoạt động học mà chơi, chơi mà học theo hướng giáo dục tích cực. Những hđ này gắn với nội dung trưng bày của mỗi bảo tàng và gần gũi với một số môn học tại nhà trường. Ngoài ra, để tạo sân chơi hữu ích cho trẻ em, các bảo tồn còn công ty những sự kiện mang tính tập thể với những trò chơi trí não thu hút sự tham gia phần lớn của các em thiếu nhi nhân Tết Thiếu nhi 1/6, Tết Trung thu... Không thể không nói đến đến hình thức Câu lạc bộ “Em yêu lịch sử” và “Giờ học lịch sử tại bảo tồn” của bảo tàng Lịch sử nhà nước, mô hình này ra đời từ năm 2007 và nhanh chóng trở nên sân chơi bổ ích, lý thú, cuộn học sinh phổ thông trên địa bàn Hà Nội. hđ mang tính “thúc đẩy”, lại được doanh nghiệp theo từng chuyên đề, Câu lạc bộ này đã trở thành điểm đến quyến rũ, tạo cho các em chủ động tìm hiểu vấn đề dựa vào sự gợi mở của xuân đường từ những hiện vật di sản cụ thể sinh động. Điều này đã gây hứng học tập, phát huy tính hăng hái và sáng tạo của học trò, củng cố và bổ trợ tri thức cho các giờ học nội khóa, tạo môi trường và không khí học tập mới trong môn Lịch sử ở trường phổ biến, giúp các em yêu mến, hứng thú, ham mê tìm hiểu đối với môn Lịch sử ở trường học nói riêng và lịch sử dân tộc khái quát.
ngoại giả, cho dù đã có những canh tân tích cực từ nhận thức cho đến hđ như đã nói ở trên (trừ số ít) thì nhìn chung các bảo tồn ở Việt Nam vẫn chưa thật sự cuốn được công chúng, đặc thù là giới trẻ, trong đó sự thiếu hụt, trống trải các chương trình giáo dục công chúng tại bảo tồn là một trong những thách thức làm khuyến mại trị bảo tàng và vai trò của bảo tàng ở nước ta.
Tại các bảo tồn đã hình thành phòng GD, giáo dục - Công chúng; hay Tuyên truyền- GD hoặc có phòng ban, cán bộ chuyên trách về công việc GD. Cùng với đó là việc doanh nghiệp các hoạt động dành cho công chúng mang tính giáo dục như đơn vị các hoạt động liên quan, trải nghiệm cho các đối tượng (cốt yếu là học trò) thông qua mô hình phòng Khám phá (bảo tồn Dân tộc học Đất Việt, bảo tàng đàn bà VN, bảo tồn Mỹ thuật Việt Nam, bảo tàng Hồ Chí Minh…).
Về căn bản các chương trình giáo dục của bảo tàng đều tạo theo chủ đề của các bộ sưu tập của bảo tàng, ngoại giả, căn cứ vào nhu cầu của công chúng, các hoạt động GD còn mở mang ra các lĩnh vực khác như: triết học, văn chương, thời trang, diễn kịch hoặc các nội dung có tính thực tế gắn với đời sống hiện đại. Đến bảo tàng, con trẻ được học vẽ, sáng tác truyện tranh, hoạt hình, chụp ảnh, quay phim và tự làm những phim ngắn; có thể đăng ký những lớp học làm làm vườn, làm đồ tay chân, nấu ăn, làm bánh ... Nhiều câu lạc bộ đã được thành lập tại nhiều bảo tồn để phục vụ nhu cầu nghiên cứu, học tập, giao du theo nhóm rất hiệu quả.
Các chương trình GD được thiết kế cho từng đối tượng biệt lập như người lớn, trẻ em, bạn trẻ, sinh viên, đay nghiến, cao niên, nhóm gđ, nhóm người thiệt thòi (khiếm thính, khiếm thị, dị tật...) loại hình của các hoạt động giáo dục cũng rất rộng rãi: Các chương trình tham quan theo chủ đề, triển lãm chuyên đề, các lớp học ngắn hạn, lớp học tăng, các cuộc thi, các trò chơi tập thể, công ty các sự kiện văn hóa- nghệ thuật… . Phương châm của các chương trình hđ trong bảo tàng là quyến rũ, hữu ích, niềm vui và sáng tạo.
Ở các nước có ngành bảo tàng tăng trưởng, hầu hết các bảo tồn đều có trọng điểm, phòng hoặc phòng ban chuyên trách hoạt động GD. Các cán bộ giáo dục có một vai trò rất quan yếu, họ là những người được đào tạo, có sự hiểu biết về bảo tồn và các sưu tập bảo tàng, có nhiệm vụ giúp công chúng - đặc biệt là trẻ nít học và sử dụng bảo tồn. Họ càng ngày càng được dự hăng hái hơn vào giai đoạn doanh nghiệp trưng bày, trực tiếp vào việc thiết kế ý tưởng, chủ đề, nội dung, các giải pháp trưng bày... tức thị các khâu quan trọng nhất của công tác tổ chức triển lãm hiện vật bảo tàng.
Vài nét về công việc giáo dục ở các bảo tồn Việt Nam
Ở Đất Việt, nhận thức về hđ giáo dục của bảo tồn hiện cũng đã có những chuyển biến đáng ghi nhận, đó chấm dứt là tuyên truyền – quảng bá một chiều những nội dung được chuẩn bị trước của bảo tàng tới công chúng. Khái niệm “tuyên truyền” dần được thay thế bằng định nghĩa “giáo dục”, tức là canh tân bí quyết tiếp cận để bảo tàng có thể có nhiều hoạt động mang tính giáo dục rộng rãi và chất lượng cao hơn nhằm cuộn khách đến với mình và đóng góp nhiều hơn cho từng lớp.
Để thực hành tốt chức năng giáo dục, nhằm phát huy tốt mặt # vai trò của bảo tồn trong đời sống xã hội, để bảo tồn thật sự quyến rũ, thu hút ngày càng đông hơn khách tham quan, các bảo tàng cần không ngừng cách tân, nhiều hóa các hđ, hướng tới mục tiêu đáp ứng công chúng một cách hoàn hảo. Bởi tính GD không chỉ thuộc về những người làm công tác GD. Để tạo được môi trường tốt cho khách tham quan, học tập, các trưng bày của bảo tàng phải quyến rũ và có tính GD, gắn với nhu cầu của từng lớp hiện đại, nhu cầu của công chúng. thông tin về cuộc trưng bày phải được chuyển tới công chúng trước khi họ đến với bảo tàng để họ có sự chuẩn bị trước về những điều họ sẽ được học. Các bài viết trưng bày phải ngắn gọn, dễ hiểu và khuyến khích người đọc. bảo tàng phải tạo cho họ sự tiện lợi và tha hồ khi họ đến thăm bảo tồn …
Với đối tượng công chúng là đời trẻ học đường, cùng với việc tạo lập diện tích văn hóa hợp để học sinh được tham gia hđ sáng tạo tại bảo tàng, thì sự phối hợp và liên kết chém giữa các chương trình giáo dục học sinh của các bảo tàng với ngành GD, đặc biệt là các sở GD, các dài, chắc chắn sẽ giúp cho các chương trình giáo dục đạt tác dụng cao hơn.
Từ chỗ là các sưu tập được cất giữ để điển tích vì giá trị tiền tệ của hiện vật, hoặc là những sưu tập hiện vật lạ được Đọc tiếp vì tính quí hiếm, độc nhất vô nhị, bảo tàng đã thành lập, tăng trưởng, theo nghĩa rộng nhất được hiểu là “cơ quan được ủy thác giữ gìn các của cải của con người và vì ích lợi trong tương lai của loài người. Giá trị của nó là ở sự đáp ứng xứng đáng cho đời sống tình cảm và tinh thần của loài người…”.(1)
bảo tàng manchester united tại Tỉnh Sơn La Với sự cải cách về nhận thức từ chỗ bảo tồn lấy hiện vật làm trọng tâm sang lấy cộng đồng xã hội làm trọng tâm, vai trò GD trong bảo tồn ngày một được trọng, tác động mạnh mẽ, hăng hái đến các hđ khác của bảo tồn. Nó được coi là cơ sở xác lập chiến lược hđ PT của mỗi bảo tàng, song song, cứ vào điểm cộng, đặc điểm riêng biệt và chức năng của mỗi bảo tồn rõ ràng để đa dạng hóa các hình thức hđ đáp ứng nhu cầu chính đáng của công chúng.
Ngày nay, hđ truyền bá tri thức - giáo dục của bảo tồn kết thúc là sự chuyển giao một chiều từ người GD (chỉ dẫn, thuyết minh viên) sang người được giáo dục (khách tham quan) mà là sự đàm luận hai chiều, tác động liên quan lẫn nhau. Người ta không chỉ quan tâm đến việc bảo tàng “dạy” gì cho công chúng, mà quan trọng hơn là “công chúng học bằng cách trải nghiệm như thế nào”. Ở đây, công chúng là người học “chủ động” chứ kết thúc là người nghe “thụ động” nữa. Công chúng được tiếp cận nhiều chiều để tự rút ra những trải nghiệm, tự đúc kết những bài học, những tri thức mới cho mình chứ chẳng hề chỉ một chiều.
Cùng với giai đoạn PT lịch sử, bảo tàng có một vai trò càng ngày càng lớn trong tầng lớp, chức năng của bảo tồn luôn được bổ sung, phục vụ các nhu cầu tầng lớp. Ngày nay, bảo tồn nhiều về loại hình, tính chất, quy mô, hình thức tổ chức nhưng vẫn thực hành các chức năng mang tính truyền thống và các chức năng mới. dù rằng còn tồn tại một số quan điểm khác nhau, nhưng căn bản các ý kiến đều hợp nhất bảo tồn có các chức năng xã hội sau: chức năng nghiên cứu khoa học, chức năng GD kỹ thuật, chức năng bảo tàng di sản văn hóa, chức năng tài liệu hóa kỹ thuật, chức năng thông báo, chức năng tiêu khiển và hưởng thụ văn hóa. Trong đó, nghiên cứu kỹ thuật và giáo dục kỹ thuật là hai chức năng cơ bản thường được nhắc đến.
Nhận xét
Đăng nhận xét